Cần đăng nhập để tiếp tục

Bạn chưa đăng nhập, vui lòng đăng nhập để sử dụng chức năng này

Đăng ký ngay

Chuyện cây rong câu: Từ món ăn mát lành đến câu chuyện sinh kế

Trong những ngày hè nóng nực, được thưởng thức ly thạch làm từ rong câu tự nhiên thì còn gì thanh nhiệt hơn thế! Nhưng đằng sau những ly thạch mát lành là câu chuyện dài về loại rong câu và công cuộc mưu sinh bằng nghề vớt rong.

 

Ly thạch xoa mát lành

Hơn 30 năm nay, gánh thạch xoa của dì Liễu ở Thạch Hãn vẫn thường đông khách. Ban đầu, gánh thạch của dì chỉ là đôi quang gánh đặt cạnh ven đường, đơn sơ, giản dị là vậy. Nhưng đây là điểm đến của bao người yêu thích món chè này. Ngày nay, quán được di chuyển vào nhà, trong hẻm nhỏ trên cùng con đường, nhưng “vẫn giữ vững phong độ” về lượng khách.

Vậy món chè thạch xoa này có gì hấp dẫn đến thế?

Thạch xoa là loại chè bao gồm: thạch xoa, nước dừa, chè xanh đánh, một chút đường với khách hảo ngọt. Bên cạnh nước dừa đậm đà tự nhiên, đậu xanh ngọt ngào, bí quyết để hấp dẫn thực khách đó chính là món thạch xoa được nấu từ rau câu tự nhiên. Dì Liễu chia sẻ: Mỗi ngày dì sử dụng khoảng vài chục cân rong khô để nấu thạch. Rong câu tự nhiên ăn không dai như các loại bột rong câu, nhưng bù lại rất mát, thanh nhiệt và có vị rất ngon.

Rong câu là loại tảo thủy sinh, mọc sâu trong vùng nước lợ, nhiều nhất ở các vùng đầm phá, ngã ba cửa sông. Loài rong câu với đặc tính thanh nhiệt, được chế biến thành nhiều món ăn đặc sản như thạch rau câu, chè, bánh, cháo và các món rau… Với lợi thế về đầm phá Tam Giang, trong những năm qua, cây rong câu đã và đang mang lại thu nhập đáng kể cho các hộ dân sinh sống bằng nghề này.

Tại xã Phú Diên, huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế có khá nhiều hộ gia đình tham gia vào công việc vớt rong câu, tập trung nhiều tại các tôn Thạnh Mỹ, Kế Sung Thượng... Để vớt được loại rong này, các chị em thường đẩy thuyền nhỏ vào phá Tam Giang để vớt.

 

Bà con sử dụng dũ để vớt rong. (Ảnh TTHO)

Loài tảo thủy sinh này có đặc tính mọc dưới đầm phá nước lợ khoảng 1-1,5m. Vì vậy, để vớt rong thường có hai cách: Một là lặn xuống hái bằng tay, hai là sử dụng “dũ” (có hình tam giác và giữa có lưới). Theo bà con ở đây, thông thường họ sẽ dùng dũ để xúc rong câu vì tiết kiệm thời gian, công sức và hiệu quả. Khi sử dụng, một người sẽ đi đằng sau giữ dũ cho vững, một người đi đằng trước kéo dũ để rong câu vướng vào, mang lên thuyền. Từ thuyền, rong sẽ được vận chuyển lên bờ.

 

Rong tươi sẽ được vận chuyển lên bờ và phơi khô.

Công đoạn tiếp theo là tách rong, loại bỏ rác. Sau đó, rong câu tươi sẽ được phơi không, giặt sạch bằng nước ngọt, đóng thành bánh và vận chuyển đến các thương lái thu mua. Theo những người khai thác rong, mỗi cân rong câu khô sau khi “sơ chế” bán ở các chợ trên địa bàn xã được 5-6 nghìn đồng. Mỗi ngày các hộ dân ở Phú Diên khai thác khoảng 1 tạ rong câu, thu nhập 200-300 nghìn đồng. Cá biệt, có hộ gia đình khai thác được 500-700 nghìn đồng/ngày.

 

Theo mẹ ra phá, các em nhỏ cũng bắt không ít cua cá.

Ấy vậy, nghề này cũng có nhiều khó khăn. Thứ nhất đó chính là việc vớt rong tươi chỉ mang tính chất thời vụ, vì mùa rong trên phá Tam Giang chỉ kéo từ dài từ tháng 1 đến tháng 4 âm lịch hằng năm. Thứ 2, làm nghề này đa phần là phụ nữ. Dù mang lại thu nhập đáng kể, nhưng những người làm nghề này lại đối mặt khá nhiều khó khăn. Chị N.L.A cho biết: “Thường chị em đi theo tốp khoảng 3-4 người. Công việc nặng nhọc, trầm mình trong nước suốt ngày. Trên thì nắng nóng, dưới thì nước, nên có chuyện chi thì có người khác ở đó hỗ trợ. Chưa kể, đôi chỗ nước ngập sâu, bùn nhão, bị hụt chân, miệng sặc nước bùn đục ngầu là chuyện cơm bữa”.

 

Bên cạnh vớt rong, nhiều người phụ nữ ở đây còn bắt hến, trìa.

Thời gian trước, việc trộ nò sáo (các ngư cụ) bố trí không hợp lý gần như loại rong câu không có cơ hội phát triển. Sau khi chính quyền sắp xếp nò sáo lại, rong câu sinh sôi mang lại giá trị kinh tế không nhỏ cho ngư dân huyện Phú Vang. Bên cạnh đó, các địa phương luôn tuyên truyền bà con khai thác rong đúng cách, không được dùng cào lớn vớt rong gây khuấy động tầng nước đáy trên đầm phá; tuân thủ quy định của Chi hội nghề cá về thời gian, địa điểm khai thác. Bởi lẽ đây không chỉ loài cây mang lại giá trị kinh tế cho bà con mà còn là nguồn thức ăn phong phú cho các loài thủy sản trên đầm phá. 

TH

Bạn nghĩ sao về nội dung này?

  • 0
  • 0
  • 1
  • 0
  • 0
  • 0
  • 0