Gỡ điểm nghẽn về xử lý tài sản bảo đảm trong giải quyết nợ xấu

Báo Chính Phủ3 tháng trước

(Chinhphu.vn) - Quá trình xử lý nợ xấu đến nay vẫn còn nhiều khó khăn vướng mắc chưa được tháo gỡ, đặc biệt quy định của pháp luật đối với việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. -

Gỡ điểm nghẽn về xử lý tài sản bảo đảm trong giải quyết nợ xấu

Hội thảo "Xử lý nợ xấu - Từ góc độ chính sách và pháp luật". Ảnh: VGP/Huy Thắng

Đây là nội dung chính được trao đổi tại Hội thảo "Xử lý nợ xấu - Từ góc độ chính sách và pháp luật" do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức chiều 23/5.

Chủ tài sản chây ì, ngân hàng gặp khó

Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Kim Anh cho biết, với sự chỉ đạo quyết liệt của NHNN, các tổ chức tín dụng (TCTD) đã tích cực nâng cao chất lượng tài sản, kiểm soát chất lượng tín dụng và xử lý nợ xấu, đặc biệt là nỗ lực tự xử lý nợ xấu bằng các biện pháp đôn đốc thu hồi nợ, phát mại tài sản, thu hồi nợ từ thi hành án, sử dụng dự phòng rủi ro… Kết quả, tính đến thời điểm tháng 1/2017, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 616,7 nghìn tỷ đồng nợ xấu.

Tuy nhiên, số nợ xấu hiện vẫn đang nằm trong bảng cân đối của các TCTD và nợ xấu đã bán cho Công ty Quản lý tài sản (VAMC) chưa xử lý được đang chiếm một tỉ lệ khá cao là 5,8% trên tổng dư nợ tín dụng và đầu tư đối với nền kinh tế của các TCTD, nếu tính cả số nợ có khả năng cao chuyển thành nợ xấu trong thời gian tới thì tỉ lệ này đương nhiên cao hơn. Một câu hỏi luôn đặt ra là tại sao số nợ xấu đó chưa được xử lý dứt điểm? Nếu phân tích về số nợ xấu xử lý được, điểm đáng chú ý là, trong tổng số nợ xấu được xử lý, hình thức bán, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ ở mức khá thấp - 17,1 nghìn tỷ đồng (chiếm 2,8% tổng nợ xấu được xử lý).

Các chuyên gia cho rằng, quá trình xử lý nợ xấu đến nay cho thấy còn nhiều khó khăn vướng mắc chưa được tháo gỡ, đặc biệt quy định của pháp luật đối với việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ còn nhiều bất cập làm hạn chế hiệu quả của việc xử lý nợ xấu, điều này thể hiện ở 3 điểm chính.

Thứ nhất, là nhiều quy định của pháp luật chưa bảo vệ quyền chủ nợ hợp pháp của TCTD và VAMC, cản trở việc tạo lập và phát triển thị trường mua bán nợ xấu, như về việc mua bán khoản nợ xấu có tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.

Cụ thể, trong quá trình tổ chức mua nợ, VAMC xử lý nợ đã mua, khách hàng vay đồng ý bổ sung thêm tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất nhưng theo các quy định hiện hành tại Điều 174, 175, 176 Luật Đất đai 2013. Tương tự, đến khi đơn vị xử lý nợ bán lại khoản nợ xấu đã mua cho bên mua nợ là các cá nhân, tổ chức không phải là TCTD thì những người này cũng không được nhận thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản, gây khó trong việc xử lý. Thứ hai, các quy định của pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm (TSBĐ) còn nhiều vướng mắc, bất cập, không bảo đảm quyền xử lý tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm như về quyền thu giữ tài sản. Cụ thể, Bộ luật Dân sự 2015 đã bỏ quyền thu giữ tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

Điều này khiến VAMC, các TCTD không thể chủ động thu giữ nếu các chủ tài sản không đồng thuận, cố tình chống đối, thậm chí tạo ra các tranh chấp khác liên quan đến TSBĐ để khởi kiện ra tòa nhằm kéo dài thời gian xử lý tài sản bảo đảm.

VAMC, TCTD sẽ phải chờ bản án của Tòa án, tạo áp lực lên cho các cơ quan xét xử. Sự kéo dài về mặt thời gian đó cũng tạo nên tâm lý chây ỳ trả nợ của bên có nghĩa vụ.

Việc xử lý tài sản bảo đảm của VAMC, TCTD bị kéo dài, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả xử lý nợ xấu.

Thứ ba, thời gian xử lý nợ, tài sản bảo đảm qua tòa án thường bị kéo dài, không hiệu quả (thời gian giải quyết khoảng 400 ngày, nhưng thực tế là khoảng 2 năm; chi phí chiếm khoảng: 29% giá trị đòi nợ; chỉ số chất lượng tố tụng tư pháp của Việt Nam chỉ đạt 6,5/18).

Tiếp thu đối đa các ý kiến hoàn thiện

Đã có nhiều kiến nghị về việc cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về quyền xử lý TSBĐ của các TCTD cũng như trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ quyền xử lý TSBĐ của cơ quan tư pháp các cấp.

Các diễn giả cho rằng, quan điểm xây dựng và thực thi pháp luật hiện nay cần phải được thay đổi. Những quy định không hợp lý khiến người vay lợi dụng chây ỳ, vi phạm cam kết theo hợp đồng sẽ có thể ảnh hưởng lớn đến quyền hợp pháp của đa số người gửi tiền, tiềm ẩn rủi ro gây mất an toàn hệ thống TCTD, an toàn trật tự xã hội. Do vậy, các đại biểu cho rằng, việc cho phép TCTD được quyền thu giữ tài sản bảo đảm là biện pháp quan trọng để bảo đảm quyền lợi người gửi tiền phù hợp với Nghị quyết của Đảng, Quốc hội.

Các ý kiến đồng ý với tinh thần chung của Nghị quyết nhưng vẫn cần có sự điều chỉnh để mang lại hiệu quả thực tế cao hơn. Về phía đại diện TCTD, TS. Nguyễn Đức Hưởng, cố vấn cao cấp, Ngân hàng TMCP Liên Việt PostBank cho rằng, dự thảo Nghị quyết có nêu ngân hàng được thu giữ TSBĐ xử lý nếu chủ tài sản đồng thuận và không đồng thuận là chưa hợp lý. Ông Hưởng chia sẻ, với kinh nghiệm nhiều năm làm ngân hàng, rất ít khi "con nợ" bị nợ xấu đồng thuận ngay với ngân hàng về việc thu giữ TSBĐ. Do đó, nếu người, doanh nghiệp có nợ xấu không đồng thuận lại phải trình ra toà theo hồ sơ rút gọn thì lại kéo dài thời gian không khác gì trước đây.

Hơn nữa, nợ xấu dù ít hay nhiều luôn tồn tại song hành với hoạt động tín dụng, cần tăng cường tính xuyên suốt của việc xử lý nợ xấu, chứ không nên giới hạn việc xử lý nợ xấu phát sinh từ mốc thời gian từ 31/12/2016 trở về trước. Nếu làm giới hạn thời gian mà nợ xấu phát sinh sẽ có thể rơi vào trường hợp "đẽo cày giữa đường".

Có cùng quan điểm, ông Nghiêm Xuân Thành, Chủ tịch HĐQT Vietcombank cho rằng, người chủ tài sản có nợ xấu có thể lợi dụng chây ì, vì đưa ra toà sẽ cần rất nhiều thời gian, thủ tục để giải quyết.

Ông Thành dẫn chứng, có khách hàng chủ khách sạn lớn ở Nha Trang, khách hàng cố tình chây ỳ, trong thời gian thực hiện các thủ tục tố tụng, khách hàng vẫn khai thác mỗi năm thu được 70-100 tỷ đồng nhưng không nộp vào ngân hàng 3-5 năm nay.

"Lẽ ra, nếu ngân hàng có quyền thu hồi xử lý tài sản với giá trị hàng nghìn tỷ đồng thì sẽ giải quyết cả nợ gốc ngay lập tức. Tuy nhiên, do việc kéo dài thời gian xử lý nên không biết còn thu được đủ nợ không", ông Thành lo ngại.

Thực tế, quyền thu giữ tài sản bảo đảm trước đây đã được các TCTD thực hiện và đã được quy định tại Nghị định 178/1999/NĐ-CP về bảo đảm tiền vay của TCTD (Điều 31, 35), Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm (Điều 63). Nhưng đến Bộ luật Dân sự 2015 đã bỏ quyền thu giữ tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm, điều này sẽ gây khó khăn rất lớn đến quyền xử lý tài sản bảo đảm của VAMC, TCTD.

Ông Nghiêm Xuân Thành cho biết thêm, là một trong những ngân hàng ít phải xử lý nợ xấu nhất, nhưng Vietcombank gần đây cũng đã phải chuyển 790 vụ qua toà án. Có 98 vụ đã thụ lý chưa xét xử, có nhiều vụ 2 năm chưa giải quyết tranh chấp xong, phúc tra lại... Chưa nói đến thời gian tốn kém cho thi hành án, thậm chí có những vụ kéo dài đến 7 năm chưa thi hành án xong, trong thời gian đó, tài sản cũng đã hao mòn, hoặc giảm giá trị.

Có ý kiến đề nghị phải tính cả đến các trường hợp rắc rối một cách chi tiết hơn, ví dụ, liên quan việc xử lý vật chứng các vụ án hình sự, làm giả giấy tờ cầm cố ngân hàng...

Tại Hội thảo, các đại biểu, chuyên gia cho rằng, các chính sách quy định tại Nghị quyết được đánh giá là thiết thực, cần thiết, phù hợp với thông lệ quốc tế, bảo đảm tính khả thi, bảo đảm quyền chủ nợ hợp pháp, chính sách của TCTD, VAMC, quyền lợi của người gửi tiền, cũng như các bên có liên quan; khắc phục các vướng mắc, bất cập của hệ thống pháp luật về xử lý nợ xấu, xử lý tài sản bảo đảm trong thời quan qua. Các nội dung quy định tại dự thảo Nghị quyết có nêu rõ vai trò của các cơ quan nhà nước, từ các cơ quan Chính phủ cho đến các cơ quan tư pháp (Tòa án, Viện Kiểm sát nhân dân) trong quá trình giám sát, triển khai, tổ chức thực hiện Nghị quyết này có ý nghĩa quan trọng để bảo đảm khả năng thực thi của Nghị quyết trong thực tế.

Huy Thắng

Tin liên quan
Cần đăng nhập để tiếp tục

Bạn chưa đăng nhập, vui lòng đăng nhập để sử dụng chức năng này

Đăng ký ngay