Cần đăng nhập để tiếp tục

Bạn chưa đăng nhập, vui lòng đăng nhập để sử dụng chức năng này

Đăng ký ngay

Những nguy cơ rình rập trẻ nhỏ khi cơ thể thiếu kẽm

Người Đưa Tin5 tháng trước

Nếu thiếu kẽm nặng, trẻ sẽ bị suy dinh dưỡng, lùn, chậm dậy thì, thiểu năng sinh dục và chậm phát triển tâm thần vận động.

Theo điều tra toàn quốc về tình hình tiêu thụ lương thực, thực phẩm năm 2010 của viện Dinh dưỡng (bộ Y tế), bữa ăn của người dân Việt Nam không đáp ứng đủ nhu cầu vi chất dinh dưỡng cơ thể.

Khẩu phần ăn của người dân ở nông thôn mới đáp ứng được 23% nhu cầu vitamin A, 79% nhu cầu sắt và 56% nhu cầu kẽm; còn ở thành phố, các con số tương ứng lần lượt là 35%, 76% và 57%.

Ngay cả với trẻ em từ 2 – 5 tuổi là đối tượng thường được ưu tiên thức ăn trong bữa ăn gia đình thì mức đáp ứng các vi chất dinh dưỡng cũng không đủ cho nhu cầu của cơ thể.

Trong đó, thiếu kẽm ở nước ta cũng đang là vấn để có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng.

Chia sẻ về vai trò của kẽm với sức khỏe, PGS.TS Trương Tuyết Mai - Phó Viện trưởng viện Dinh dưỡng cho hay, kẽm đóng vai trò rất quan trọng như tham gia vào hoạt động của các enzym, biểu hiện kiểu gene, phân chia tế bào và phát triển cơ thể, tham gia vào chức năng sinh sản, miễn dịch, điều hòa vị giác, cảm giác ngon miệng.

Những nguy cơ rình rập trẻ nhỏ khi cơ thể thiếu kẽm

PGS.TS Trương Tuyết Mai - Phó Viện trưởng viện Dinh dưỡng chia sẻ về việc tăng cường vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm.

“Thiếu kẽm có thể làm chậm phát triển thể chất, đặc biệt là chiều cao ở trẻ em với biểu hiện chán ăn, nôn, tiêu hóa kém. Nặng hơn, trẻ sẽ suy dinh dưỡng, lùn, chậm dậy thì, thiểu năng sinh dục và chậm phát triển tâm thần vận động. Nam giới có thể mất khả năng sinh sản. Phụ nữ có thai bị thiếu kẽm làm tăng nguy cơ suy dinh dưỡng bào thai, đẻ non và tăng nguy cơ biến chứng trong thai kỳ”, PGS.TS Trương Tuyết Mai chia sẻ.

Kết quả điều tra về tình trạng dinh dưỡng vào năm 2010 tại 6 tỉnh ở Việt Nam cho thấy, 90% phụ nữ có thai bị thiếu kẽm, tỉ lệ này ở trẻ em dưới 5 tuổi là 81,2% và phụ nữ trong độ tuổi sinh nở là 65%.

Năm 2014 - 2015, viện Dinh dưỡng cũng tiến hành điều tra tình trạng thiếu một số vi chất dinh dưỡng của phụ nữ và trẻ em từ 6 – 59 tháng và kết quả cho thấy: Tỉ lệ thiếu kẽm ở phụ nữ có thai là 80,3%, phụ nữ không có thai 63,6% và trẻ em dưới 5 tuổi là 69,4%. Tỉ lệ này trong cộng đồng không giảm đáng kể so với kết quả điều tra năm 2010 của viện Dinh dưỡng.

“Tỉ lệ thiếu kẽm ở cộng đồng trên 20% được xác định là vấn đề thiếu kẽm có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng. Như vậy, tỉ lệ thiếu kẽm ở Việt Nam rất cao so với ngưỡng phân loại của nhóm Tư vấn Quốc tế về kẽm (IZINC)”, PGS.TS Trương Tuyết Mai nói.

PGS. Mai cho biết thêm, một trong những nguyên nhân quan trọng gây thiếu kẽm và các vi chất dinh dưỡng khác là trong khẩu phần ăn của người dân thiếu các thực phẩm giàu kẽm, chất lượng của bữa ăn kém, thiếu thức ăn có nguồn gốc động vật.

Bên cạnh đó, PGS.TS Mai cũng đưa ra các nghiên cứu có mối liên quan giữa suy dinh dưỡng và thiếu vi chất dinh dưỡng đó là: Thiếu kẽm làm chậm tăng trưởng ở trẻ em; trẻ suy dinh dưỡng có nồng độ vitamin A, kẽm huyết thanh thấp hơn có ý nghĩa so với trẻ không suy dinh dưỡng. Tương tự, trẻ bị tiêu chảy cũng có nồng độ kẽm huyết thanh thấp hơn rõ rệt so với trẻ bình thường. Trẻ càng suy dinh dưỡng nặng thì nồng độ kẽm huyết thanh càng thấp.

Cùng bàn về vấn đề này, PGS.TS Nguyễn Thị Lâm - nguyên Phó Viện trưởng viện Dinh dưỡng Quốc gia cũng đưa ra thông tin, kẽm là một vi chất đang bị thiếu nhiều nhưng chưa trở thành chương trình can thiệp cộng đồng rộng rãi trên thế giới và Việt Nam.

Những nguy cơ rình rập trẻ nhỏ khi cơ thể thiếu kẽm

PGS.TS Nguyễn Thị Lâm - nguyên Phó Viện trưởng viện Dinh dưỡng Quốc gia.

Theo PGS.TS Nguyễn Thị Lâm, thiếu kẽm sẽ dẫn tới tình trạng biếng ăn, suy dinh dưỡng, chậm tăng trưởng chiều cao, rối loạn tiêu hóa và chuyển hóa, rối loạn giấc ngủ, suy giảm khả năng miễn dịch, tổn thương mắt… ở nhiều trẻ em. Đây là những tình trạng ở mức độ nhẹ.

Khi trẻ thiếu kẽm ở mức độ nặng sẽ gây viêm da, dày sừng, sạm và bong da mặt ngoài hai cẳng chân (vẩy cá), hói, loạn dưỡng móng (móng nhăn, có vệt trắng, chậm mọc), khô mắt, viêm quanh hậu môn, âm hộ, tiêu chảy, tăng nhạy cảm đối với bệnh nhiễm trùng, gây ra nhiễm trùng tái diễn. Bệnh nặng kích thích thần kinh, rối loạn nhận thức, mắc chứng ngủ lịm, chậm phát triển tâm thần vận động. Thiếu kẽm có thể gây chậm phát triển giới tính, giảm khả năng tuyến sinh dục, ít tinh trùng, bệnh bất lực, suy dinh dưỡng nặng, chứng lùn...

Sở dĩ có những tình trạng trên là do trong quá trình chuyển hóa có sự tham gia rất nhiều của kẽm với 300 enzym trong cơ thể chứa kẽm.

PGS. Lâm khuyến cáo kẽm có nhiều ở các loại hải sản như hàu, ngao, tôm, cua; bên cạnh đó là các loại thịt như bò, gà; hạt ngũ cốc cũng có kẽm nhưng không nhiều… Muốn đủ kẽm ở trẻ, khẩu phần ăn hàng tuần phải bổ sung thường xuyên các loại thức ăn trên. Đối với các trẻ biếng ăn, ăn ít, hoặc khó ăn các loại thực phẩm trên, đặc biệt trẻ bị ốm nên uống bổ sung một số sản phẩm có thành phần kẽm kết hợp với lysine, taurine, vitamin nhóm B…

Thiếu kẽm, sự chuyển hóa của các tế bào vị giác bị ảnh hưởng gây biếng ăn do rối loạn vị giác. Nếu thiếu kẽm, cơ thể sẽ chậm và ngừng phát triển, sự phân chia tế bào sẽ khó xảy ra nên ảnh hưởng trầm trọng đến sự tăng trưởng. Trẻ em thiếu kẽm thường biếng ăn, còi cọc và chậm lớn. Bổ sung kẽm cho trẻ bị suy dinh dưỡng thấp còi (kém phát triển về chiều cao), có tác dụng phục hồi rõ rệt cả về tốc độ phát triển chiều cao và cân nặng, làm tăng nồng độ hormon IGF-1, một yếu tố tăng trưởng quan trọng của cơ thể. Theo nghiên cứu của tác giả Castillo – Duran, việc bổ sung kẽm cho trẻ sinh ra nhẹ cân so với tuổi thai cho thấy có sự tăng trưởng tốt về chiều cao và cả cân nặng trong 6 tháng đầu đời. Như vậy, để trẻ có chiều cao tốt thì trong chế độ ăn của bà mẹ từ lúc có thai cho đến chế độ ăn của con sau khi sinh đều phải có đầy đủ kẽm.

Không chỉ có tác dụng với thể chất, tình trạng thiếu kẽm còn ảnh hưởng xấu đến tinh thần, khiến bản thân dễ nổi cáu. Nguyên nhân do kẽm giúp vận chuyển canxi vào não, mà canxi là một trong những chất quan trọng giúp ổn định thần kinh.

Nguyễn Huệ

Bạn nghĩ sao về nội dung này?

  • 0
  • 0
  • 0
  • 0
  • 0
  • 0
  • 0